Tư vấn xác định tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn

Hỏi: Thưa luật sư! Cho tôi hỏi những câu hỏi sau: Năm 2014, khi  tôi sinh đứa thứ 03 (Con trai đầu sinh 2003, con gái thứ 02 sinh 2006 và con gái thứ 03 hiện được 30 tháng tuổi) thì chồng tôi ngoại tình bên ngoài. Nhưng khi về nhà, chồng  tôi xin lỗi, hứa hẹn sẽ không qua lại với người tình nữa rồi hủy bằng chứng chụp bằng điện thoại. Đầu năm 2016 thì chồng tôi vẫn qua lại với người tình và chồng tôi làm đơn ly hôn ( ly hôn đơn phương), chồng tôi tự thuê thẩm định tài sản chung bao gồm (mảnh đất gắn liền nhà: 220 triệu đồng, tài sản gắn trên đất, vật dụng: 306 triệu đồng). Hiện đơn đề nghị ly hôn (do chồng tôi đơn phương gởi tòa án). Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả vì chồng tôi yêu cầu  tôi đi khỏi nhà hiện đang sống cùng các con, vì cho rằng đây là nhà của mẹ chồng (mẹ chồng mất đã lâu), tôi là con dâu nên không được ở đây và đặt vấn đề chia đôi số tài sản thẩm định cho tôi 150 triệu (chưa bao gồm đất), đồng thời chu cấp cho 03 con mỗi tháng 2,4 triệu đồng. Trước sự việc trên, tôi có một số nội dung kính mong Luật sư tư vấn để đảm bảo quyền lợi cho tôi và các con khi ly hôn:

Về đất và nhà ở: Trước năm 2002 mẹ chồng tôi có mảnh đất (chưa có giấy chứng nhận sử dụng đất), trên đất có ngôi nhà cũ (năm 2007 đập phá đi để xây nhà mới hoàn toàn).  Tôi kết hôn năm 2002 sống cùng với gia đình nhà chồng gồm có (mẹ chồng, chồng (là con duy nhất), cha chồng tôi chết sớm, 02 cháu là con của vợ/chồng tôi). Năm 2008 mẹ chồng  tôi chết không có để lại di chúc và giấy tờ cho tặng vợ/chồng tôi. Từ đó vợ/chồng tôi làm ăn sinh sống và tôn tạo, xây dựng thêm nhà cửa mới trên mảnh đất đó (không có đăng ký quyền sử dụng đất) và sắm thêm vật dụng trong nhà.

 Như vậy trong trường hợp ly hôn, để đảm bảo quyền lợi của tôi và các con (02 cháu, cháu lớn 13 tuổi, cháu giữa 10 tuổi đã được tòa án gọi ra hỏi và 02 cháu đều ở với mẹ) có được quyền ở lại ngôi nhà này hay không? tôi sống liên tục 15 năm tại ngôi nhà này, đã có công sức và đóng góp tiền kinh doanh buốn bán để xây dựng, cải tạo ngôi nhà này; vừa làm tốt vai trò người con dâu trong gia đình khi chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ chồng, vừa làm tròn chức trách của người vợ lo cho chồng, cho con. Hàng ngày bươn chải kinh doanh buôn bán để đảm bảo kinh tế lo cho gia đình. tôi buôn bán tại nhà.

Chồng tôi đi làm xa 20 km, sáng đi chiều về nhưng thời gian rất thất thường. Chỉ có thứ 7 và chủ nhật mới ở nhà nhưng rất thất thường, ngày mùa thì làm cả ngày thứ 7. Hai năm gần đây thì cuối tuần rất ít thường xuyên về có khi tới thứ 2 mới về. Nếu được tôi được tòa án quyết ở lại ngôi nhà làm ăn nuôi các con tôi thì chồng tôi ra đi và được chia như thế nào? Cho tôi hỏi như trình bày ở trên  tôi có được chia tài sản phần hơn chồng tôi không? vì chồng tôi “lỗi” ngoại tình.

Chồng  tôi quyết đuổi  tôi và các con ra ngoài và đưa 150 triệu (tài sản chung là 306 triệu chia đôi 2 vợ chồng không bao gồm đất). Tòa án cũng theo hướng của chồng  tôi là như vậy và có phụ cấp cho 03 con của em gái tôi mỗi tháng 2 triệu 4 (lương cơ bản của chồng em gái tôi là 6 triệu 2). Chồng tôi đưa thêm 10 triệu đồng để bù vào công sức đóng góp 15 năm qua. Trong thời hạn 3 tháng sẽ ra khỏi nhà. Tòa án cho chồng tôi ở lại ngôi nhà một mình như vậy có đúng luật không? Phụ cấp nuôi con có hợp lý?

Mảnh đất của mẹ chồng em gái tôi phân xử như thế nào? Em gái tôi và các con em gái tôi có được quyền chia không? Mảnh đất đó giờ là thuộc của ai?

Mảnh đất của bố mẹ tôi cho 2 vợ chồng  tôi trong thời gian chung sống với nhau, có làm giấy tờ tay nhưng chưa ra phường xác nhận và đóng dấu, chưa chính thức đăng ký quyền sử dụng đứng tên 02 vợ chồng tôi.Giờ 2 vợ chồng tôi ly hôn thì bố mẹ tôi không cho nữa. Như vậy 2 vợ chồng  tôi có được quyền  sử dụng mảnh đất đó không? Muốn hủy bỏ việc cho này thì cha mẹ tôi phải làm gì?

Kính mong Luật tư tư vấn giúp cho tôi để tôi hướng dẫn tôi thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp lý theo qui định; đảm bảo quyền lợi cho tôi và các con.

Trân trọng cảm ơn Luật sư!

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình: 19006165
Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình: 19006165

Luật sư tư vấn

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới bộ phận tư vấn pháp luật của Công ty Luật Tiến Đạt. Với những vấn đề của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, Về quyền sử dụng đất là tài sản riêng của chồng bạn.

Điều này được giải thích như sau: vào năm 2008 mẹ chồng của bạn mất và không có để lại di chúc do đó di sản sẽ được chia theo quy định về thừa kế theo pháp luật. Căn cứ vào Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật, theo đó hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi. Như vậy, trong trường hợp của bạn thì chỉ có một người thừa kế duy nhất trong hàng thừa kế, thừa kế tài sản của mẹ chồng bạn để lại là chồng bạn. Bạn là con dâu của mẹ chồng bạn, con bạn là cháu nội của mẹ chồng bạn, cả hai đều không phải là người thừa kế di sản của mẹ chồng bạn. Do đó, có thể thấy chồng bạn là người thừa kế riêng mảnh đất này.

Bên cạnh đó, căn cứ vào Điều 43 LHNGD 2014 quy định về tài sản riêng của vợ chồng như sau: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng khi hai vợ chồng có thỏa thuận về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Như vậy, quyền sử dụng đất này là tài sản riêng của chồng bạn.

Thứ hai, Xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn

Căn cứ Điều 33 LHNGD 2014 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức có được từ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Như vậy, theo như kết quả giám định của chồng bạn thì khối tài sản chung của bạn và chồng bạn là khối tài sản nhà trên đất có giá trị 306 triệu đồng.

Thứ ba, Về việc chia tài sản chung khi ly hôn

Căn cứ vào Khoản 4 Điều7 thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn Điều 59 LHNGD 2014 về việc tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi khi ly hôn nhưng có tính đến một số yếu tố sau để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia. Theo đó, căn cứ vào các yêu tố:
–  “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
– “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
– “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
– “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Như vậy, tổng hợp các dữ liệu bạn đưa ra và quy định của pháp luật có thể thấy bạn là người đóng góp vào khối tài sản chung nhiều hơn và lỗi dẫn tới tình trạng ly hôn là do chồng bạn ngoại tình. Sau khi ly hôn bạn là người nuôi 3 người con chưa thành niên còn tuổi ăn tuổi học, nghề nghiệp lại là buôn bán tại nhà nhưng khi ly hôn bạn sẽ phải chuyển đi do vậy công việc sẽ không ổn định bằng chồng bạn đây cũng là những lý do cho thấy bạn có hoàn cảnh khó khăn hơn chồng bạn sau khi ly hôn. Vì vậy bạn có thể sẽ được tòa án chia phần tài sản nhiều hơn để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bạn và con bạn.

Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của chồng bạn, ngôi nhà và tài sản trên đất là tài sản chung của chồng bạn do vậy, khi 2 bạn ly hôn tòa án chỉ có quyền quyết định về tài sản chung của 2 bạn còn tài sản riêng của chồng bạn sẽ không thuộc thẩm quyền quyết định của tòa án. Như vậy, nếu bạn muốn ở lại ngôi nhà này thì bạn có thể thỏa thuận với chồng bạn. Nếu chồng bạn đồng ý chuyển đi thì bạn sẽ phải trả cho chồng bạn giá trị quyền sử dụng mảnh đất cộng thêm phần giá trị tài sản được thể hiện bằng tiền tương đương phần giá trị tài sản chung chồng bạn được chia khi ly hôn. Trong trường hợp chồng bạn không đồng ý thì bạn sẽ phải chuyển đi và nhận phần giá trị tài sản bằng tiền tương đương phần tài sản nhận được sau ly hôn theo bản án của tòa án.

Thứ tư, Về quyền sử dụng đất do bố mẹ bạn tặng cho hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ khoản 3 điều 167 LDD 2013 quy định: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực trừ trường hợp kinh doanh bất động sản mà một trong các bên là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản. Như vậy, trong trường hợp của bạn thì giấy tờ viết tay về tặng cho quyền sử dụng đất trên là hợp đồng vô hiệu về hình thức do đó nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Bên cạnh đó, vợ chồng bạn chỉ có được quyền sử dụng đất khi vợ chồng bạn đã được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này, vợ chồng bạn không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ theo Điều 100 luật đất đai 2013 vì vợ chồng bạn không có giấy tờ tặng cho quyền sử dụng đất hợp lệ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên bố mẹ đẻ của bạn do vậy nó vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bố mẹ bạn về mảnh đất. Về giấy tờ tặng cho cho bạn trong thời kỳ hôn nhân là hợp đồng vô hiệu như đã phân tích trên vì vậy nó không có giá trị pháp luật do vậy không cần thực hiện thêm thủ tục gì để hủy giấy tờ đó.

Trường hợp giấy tờ tặng cho đó đã được công chứng tại văn phòng công chứng hoặc chứng thực thì bạn mới cần thực hiện các thủ tục khác để hủy bỏ hợp đồng. Theo đó căn cứ Điều 51 Luật công chứng 2014 quy định: Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó.Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, hy vọng với những nội dung tư vấn này sẽ giúp bạn giải đáp được những thắc mắc của mình. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ tổng đài luật sư 1900 6165 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

Tư vấn xác định tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn
4 (80%) 3 votes
Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng khi chưa có ý kiến chính thức của luật sư.

LIÊN HỆ TƯ VẤN HOẶC ĐẶT DỊCH VỤ VUI LÒNG GỌI

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ: 1900 6165

HOẶC GỬI CÂU HỎI TẠI ĐÂY