Tài sản chung, riêng của vợ chồng

Hỏi: Chào luật sư! Tôi chuẩn bị kết hôn và có một câu hỏi xin luật sư tư vấn giúp ạ !
Bố tôi có một mảnh đất đứng tên bố tôi và cho tôi để tôi làm nhà nhưng sổ vẫn tên bố tôi, khi xin phép xây dựng vẫn xin bằng tên bố tôi. Ngoài số tiền bản thân tích cóp được tôi còn vay mượn thêm 400 triệu đồng ở ngân hàng để hoàn thiện ngôi nhà.Tôi và bố mẹ tôi cùng kí tên để vay nợ nên sổ đỏ ngân hàng đang giữ. Tính đến thời điểm này tôi đã trả được ngân hàng 150 triệu đồng, nghĩa là tính đến thời điểm trước khi kết hôn tôi còn nợ ngân hàng 250 triệu đồng .
1. Nếu Sau khi kết hôn, trả xong nợ được lấy sổ đỏ về bố tôi có thể thừa kế riêng tài sản bao gồm cả đất và nhà cho tôi không? Tài sản đó có được coi là tài sản riêng của tôi không? Nếu sau này chúng tôi sống không hạnh phúc dẫn tới ly hôn thì tài sản đó sẽ được chia như thế nào? vợ tôi có lấy được lý do là khoản nợ 250 triệu còn lại do cả 2 cùng trả để đòi chia đôi tài sản không? Vì lương của vợ chỉ đủ sống 4-5 triệu, phần lớn là do tôi trả nợ, lương tôi 11-12 triệu .
Mong luật sư giúp đỡ tôi ! Chân thành cảm ơn luật sư !
Tư vấn tài sản chung, riêng của vợ chồng
Tư vấn tài sản chung, riêng của vợ chồng

Luật sư tư vấn

Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Luật Tiến Đạt. Với trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản chung, riêng của vợ chồng thì sau khi kết hôn, trả xong nợ được lấy sổ đỏ về bố bạn có thể thừa kế riêng tài sản bao gồm cả đất và nhà cho bạn. Hợp đồng này ghi chi tiết việc “cho riêng” sau đó mang đi công chứng thì bạn có thể yên tâm đó là tài sản của riêng bạn. Sau khi có hợp đồng tặng cho riêng hợp pháp, bạn sẽ tiến hành đăng ký thủ tục sang tên tài sản đó cho mình để chính thức làm chủ tài sản đó.

 Nếu hợp đồng tặng cho đó không ghi rõ “cho riêng” bạn thì nếu sau này vợ chồng bạn ly hôn thì tài sản đó sẽ chia đôi. Tuy nhiên theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định khi giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì có tính đến các yếu tố:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Căn cứ tại Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Vậy nếu  khoản nợ 250 triệu còn lại do cả 2 vợ chồng bạn cùng trả thì vợ bạn có quyền đòi chia đôi số tài sản đó nếu ly hôn.

Hy vọng những tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Vui lòng liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6165 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn!

Bài viết liên quan

Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng khi chưa có ý kiến chính thức của luật sư.

LIÊN HỆ TƯ VẤN HOẶC ĐẶT DỊCH VỤ VUI LÒNG GỌI

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ: 1900 6165